Trang phục quân đội thời Nguyễn
Từ thời chúa Nguyễn trang phục dân gian và quân đội đã trải qua sự biến đổi tới thời Nguyễn thì trang phục quân đội không còn xuất hiện bộ trang phục Giáp trụ hạng nặng nữa mà thay vào đó chủ yếu quan viên ban võ mặc áo Mãng Lan đội mũ Hổ đầu. Binh lính cũng không còn cởi trần đóng khố như thời Lê Trung Hưng.
Năm 1835, Thái Đình Lan trong "Hải Nam tạp trứ" mô tả : "Lính cấp dịch ở tỉnh gọi là tỉnh binh đội nón nứa, nón nhỏ chỉ đủ để che đầu, quết sơn màu vàng, chỏm cắm lông gà, áo dùng loại dệt len màu đỏ, viền màu lục, ống tay màu lục. Lính ở phủ, huyện gọi là phủ binh, huyện binh, đội nón quyết sơn màu lục, màu đen, cắm lông gà, áo dùng vải đen, viền đỏ, ống tay màu đỏ."
Các dòng mô tả trên hoàn toàn khớp với các tranh vẽ binh lính Việt Nam do người phương Tây vẽ đầu thế kỷ 20.
Showing posts with label quân đội. Show all posts
Showing posts with label quân đội. Show all posts
Tuesday, July 19, 2016
Thursday, July 14, 2016
Trang phục quân đội thời Lê Trung Hưng - các dạng trang bị khác.
3) Các dạng trang phục khác
Vào thời Lê Trung Hưng cũng giống như thời Lê Sơ các loại nón cũng là một dạng quân trang của binh lính
Trong "Vũ trung tùy bút" của Phạm Đình Hổ cho biết : " Quân lính đội Trạo lạp, tục gọi nón Chèo vành (…) đến như 2 vùng Thanh - Nghệ thì người ta đều đội Viên cơ lạp , tục gọi nón Nghệ (…) Đến khoảng năm Nhâm Dần, Quý Mão (1782 – 1783) , quân Tam phủ cậy công làm càn, nhiều người đội nón Viên cơ để lẫn với lính, dần dần chuyển thành tục (…) Đến năm Bính Ngọ (1786) trong nước có biến, lại bỏ Viên cơ đội Cẩu diệp (…) nón Trạo không còn thấy nữa."
Vào thời Lê Trung Hưng cũng giống như thời Lê Sơ các loại nón cũng là một dạng quân trang của binh lính
Trong "Vũ trung tùy bút" của Phạm Đình Hổ cho biết : " Quân lính đội Trạo lạp, tục gọi nón Chèo vành (…) đến như 2 vùng Thanh - Nghệ thì người ta đều đội Viên cơ lạp , tục gọi nón Nghệ (…) Đến khoảng năm Nhâm Dần, Quý Mão (1782 – 1783) , quân Tam phủ cậy công làm càn, nhiều người đội nón Viên cơ để lẫn với lính, dần dần chuyển thành tục (…) Đến năm Bính Ngọ (1786) trong nước có biến, lại bỏ Viên cơ đội Cẩu diệp (…) nón Trạo không còn thấy nữa."
Trang bị nặng quân đội thời Lê Trung Hưng - áo giáp phần 2
Chắc chắn nhiều người sẽ thấy sự tương đồng giữa kiểu giáp trên với kiểu áo giáp của nhà Thanh. Nguyên do bởi buổi ban đầu khu vực Mãn Châu là vùng nội phụ chịu triều cống nhà Minh.
Chính vì thế người Mãn đã mô phỏng theo kiểu áo giáp của quân Minh đồn trú tại đây để làm ra áo giáp cho mình nên mới có sự giống nhau này. Thực chất kiểu áo giáp này đã rất phổ biến từ thời Nguyên rồi.
Kết cấu giáp thân trên (Mặt trước và sau)
Chú thích
1) Lớp lụa lót trong và viền cổ áo
2) Giáp bảo vệ vai
3) Đinh tán trên thân áo dùng để cố định các miếng giáp lót bên trong với lớp phủ vải bên ngoài
4) Cúc cài áo
5) Thân chính
6) Viền đáy áo
Chính vì thế người Mãn đã mô phỏng theo kiểu áo giáp của quân Minh đồn trú tại đây để làm ra áo giáp cho mình nên mới có sự giống nhau này. Thực chất kiểu áo giáp này đã rất phổ biến từ thời Nguyên rồi.
Kết cấu giáp thân trên (Mặt trước và sau)
Chú thích
1) Lớp lụa lót trong và viền cổ áo
2) Giáp bảo vệ vai
3) Đinh tán trên thân áo dùng để cố định các miếng giáp lót bên trong với lớp phủ vải bên ngoài
4) Cúc cài áo
5) Thân chính
6) Viền đáy áo
Trang bị nặng quân đội thời Lê Trung Hưng - áp giáp phần 1
a) Áo giáp
Trong "Lê triều hội điển" từng ghi chép trước kia tất cả trấn thủ các xứ và các chợ trong kinh thành đều phải nộp 100 tấm da trâu để may quân phục, đồng thời phải nộp kèm mỗi bộ da trâu hai chiếc sừng.
Như vậy có thể thấy da trâu là một chất liệu rất phổ biến để chế tạo áo giáp thời Lê Trung Hưng, với số lượng da trâu mà mỗi năm phải nộp thì có thể phỏng đoán áo giáp da trâu được trang bị cho binh lính một cách đại trà. Do sự khuyết thiếu tư liệu ta chưa biết rõ được áo giáp da thời Lê Trung Hưng ra sao.
Bên cạnh đó một nguồn tư liệu khác về áo giáp thời Lê Trung Hưng có thể tìm thấy là trên các tượng tại các lăng mộ thời này.
Điểm qua hình dáng áo giáp trên các tượng có thể thấy áo giáp của tướng sĩ thời Lê Trung Hưng có rất nhiều điểm gần như đồng nhất
Có thể phân ra làm 2 loại giáp cơ bản
Loại 1 :
Dạng áo giáp theo xu hướng áo giáp cuối Minh đầu Thanh đương thời, tức là với dáng hình thang mở xuống về phía dưới, phần giáp che thân dưới và thân trên được làm rời chứ không làm liền.
Tiêu biểu như các tượng dưới đây:
Trong "Lê triều hội điển" từng ghi chép trước kia tất cả trấn thủ các xứ và các chợ trong kinh thành đều phải nộp 100 tấm da trâu để may quân phục, đồng thời phải nộp kèm mỗi bộ da trâu hai chiếc sừng.
Như vậy có thể thấy da trâu là một chất liệu rất phổ biến để chế tạo áo giáp thời Lê Trung Hưng, với số lượng da trâu mà mỗi năm phải nộp thì có thể phỏng đoán áo giáp da trâu được trang bị cho binh lính một cách đại trà. Do sự khuyết thiếu tư liệu ta chưa biết rõ được áo giáp da thời Lê Trung Hưng ra sao.
Bên cạnh đó một nguồn tư liệu khác về áo giáp thời Lê Trung Hưng có thể tìm thấy là trên các tượng tại các lăng mộ thời này.
Điểm qua hình dáng áo giáp trên các tượng có thể thấy áo giáp của tướng sĩ thời Lê Trung Hưng có rất nhiều điểm gần như đồng nhất
Có thể phân ra làm 2 loại giáp cơ bản
Loại 1 :
Dạng áo giáp theo xu hướng áo giáp cuối Minh đầu Thanh đương thời, tức là với dáng hình thang mở xuống về phía dưới, phần giáp che thân dưới và thân trên được làm rời chứ không làm liền.
Tiêu biểu như các tượng dưới đây:
Trang phục quân đội thời Lê Trung Hưng - trang bị nặng - Mũ trụ.
2) Trang bị nặng
a) Mũ trụ
"Thanh triều văn hiến thông khảo" có ghi chép "binh chế triều Lê Trung Hưng coi áo Đa La ni kết hợp với mũ là Khôi Giáp (Giáp Trụ)."
Tại lăng Dinh Hương (Bắc Giang) có thể tìm thấy chính xác kiểu quân trang như miêu tả này với 2 bức tượng tướng sĩ canh cổng mặc áo giao lĩnh đội mũ trụ có vành hẹp cầm trùy.
a) Mũ trụ
"Thanh triều văn hiến thông khảo" có ghi chép "binh chế triều Lê Trung Hưng coi áo Đa La ni kết hợp với mũ là Khôi Giáp (Giáp Trụ)."
Tại lăng Dinh Hương (Bắc Giang) có thể tìm thấy chính xác kiểu quân trang như miêu tả này với 2 bức tượng tướng sĩ canh cổng mặc áo giao lĩnh đội mũ trụ có vành hẹp cầm trùy.
Trang phục quân đội thời Lê Trung Hưng - trang bị nhẹ.
Trang phục quân đội thời Lê Trung Hưng
1) Trang bị nhẹ
a) Các loại nón sơn
Quy chế trang phục dành cho các võ tướng thời Lê Trung Hưng kế thừa khá nhiều từ thời vua Lê Hiến Tông, theo đó quy định các quan võ tứ, ngũ phẩm đội nón bạc, lục phẩm trở xuống đội nón son, so với quy chế năm 1661, 1721 và 1725 chép trong "Khâm định Việt sử thông giám cương mục" và " Lịch triều hiến chương loại chí" có thể thấy khái niệm nón sơn son, nón sơn bạc được đồng nhất với khái niệm nón son, nón bạc.
Ngoài ra Lê triều thiện chính điển lệ và Khâm định Việt sử thông giám cương mục đều cho biết trên chóp của loại nón này được đính hồng mao.
Dưới đây là bảng so sánh quy chế nón sơn áp dụng cho quan võ triều Lê Trung Hưng dựa theo "Khâm định Việt sử thông giám cương mục" và "Lịch triều hiến chương loại chí"
1) Trang bị nhẹ
a) Các loại nón sơn
Quy chế trang phục dành cho các võ tướng thời Lê Trung Hưng kế thừa khá nhiều từ thời vua Lê Hiến Tông, theo đó quy định các quan võ tứ, ngũ phẩm đội nón bạc, lục phẩm trở xuống đội nón son, so với quy chế năm 1661, 1721 và 1725 chép trong "Khâm định Việt sử thông giám cương mục" và " Lịch triều hiến chương loại chí" có thể thấy khái niệm nón sơn son, nón sơn bạc được đồng nhất với khái niệm nón son, nón bạc.
Ngoài ra Lê triều thiện chính điển lệ và Khâm định Việt sử thông giám cương mục đều cho biết trên chóp của loại nón này được đính hồng mao.
Dưới đây là bảng so sánh quy chế nón sơn áp dụng cho quan võ triều Lê Trung Hưng dựa theo "Khâm định Việt sử thông giám cương mục" và "Lịch triều hiến chương loại chí"
Trang phục quân đội thời Lê Sơ.
Trang phục quân đội thời Lê Sơ
1) Trang bị nhẹ
Theo "Đại Việt Sử ký toàn thư" thì loại mũ quân trang nhẹ bằng da Tứ Phương Bình Đính vẫn được sử dụng khi Lê Lợi khởi nghĩa và sau này tiếp tục được dùng cho binh lính thời Lê Sơ dù ta chưa rõ loại mũ này được dùng cho một bộ phận quân đội hay trang bị đại trà.
Kể từ sau năm 1437 cùng với cải cách các dạng quân phục và đế phục trang phục quân đội cũng có thay đổi.
Theo ghi chép của "Đại Việt sử ký toàn thư" vào năm 1469 và 1470 vua Lê Thánh Tông hạ lệnh cấm dân gian chế tạo và buôn bán các loại nón dùng trong quân đội như nón màu trắng ngà , nón da, nón Thủy ma, nón sơn son, trong đó nón Thủy ma, nón sơn son là của thân quân túc trực bảo vệ cấm cung (quân túc vệ). Như vậy vào thời Lê Sơ nón là loại quân trang được dùng khá rộng, tương tự diện mạo quân trang thời Nguyễn. Tuy nhiên chưa có đủ tư liệu để ta biết hình dáng các loại nón trên thế nào.
Tới năm 1500 theo quy chế đời vua Lê Hiển Tông quan võ tứ , ngũ phẩm được đội nón bạc, quan võ lục phẩm trở xuống đội nón sơn .
1) Trang bị nhẹ
Theo "Đại Việt Sử ký toàn thư" thì loại mũ quân trang nhẹ bằng da Tứ Phương Bình Đính vẫn được sử dụng khi Lê Lợi khởi nghĩa và sau này tiếp tục được dùng cho binh lính thời Lê Sơ dù ta chưa rõ loại mũ này được dùng cho một bộ phận quân đội hay trang bị đại trà.
Kể từ sau năm 1437 cùng với cải cách các dạng quân phục và đế phục trang phục quân đội cũng có thay đổi.
Theo ghi chép của "Đại Việt sử ký toàn thư" vào năm 1469 và 1470 vua Lê Thánh Tông hạ lệnh cấm dân gian chế tạo và buôn bán các loại nón dùng trong quân đội như nón màu trắng ngà , nón da, nón Thủy ma, nón sơn son, trong đó nón Thủy ma, nón sơn son là của thân quân túc trực bảo vệ cấm cung (quân túc vệ). Như vậy vào thời Lê Sơ nón là loại quân trang được dùng khá rộng, tương tự diện mạo quân trang thời Nguyễn. Tuy nhiên chưa có đủ tư liệu để ta biết hình dáng các loại nón trên thế nào.
Tới năm 1500 theo quy chế đời vua Lê Hiển Tông quan võ tứ , ngũ phẩm được đội nón bạc, quan võ lục phẩm trở xuống đội nón sơn .
Wednesday, July 6, 2016
Trang bị quân đội thời Trần - Trang bị nhẹ.
2) Trang bị nhẹ
a) Các loại phù
Về trang bị nhẹ của quân lính thời Trần thì không thấy có gi chép gì, chỉ có thể dựa vào tính tiếp nối của 2 triều Lý – Trần mà phỏng đoán rằng bộ quân phục Tứ Phương Bình Đính vẫn được tiếp tục dùng.
Cũng theo chế độ thời Đường – Tống , nhà Trần ban các loại phù hiệu bằng vàng bạc cho quan võ (Với quan văn là Ngư Đại) như một thứ để thưởng công và phân biệt đẳng cấp.
Theo "Đại Việt sử ký toàn thư" ghi chép Phạm Ngũ Lão :
- Năm 1279 được ban Vân phù (雲符) tức là phù hiệu có hình mây.
- Năm 1294 lại được ban Kim phù (金符) phù hiệu bằng vàng hoặc mạ vàng
- Năm 1301 được phong làm Thân Vệ tướng quân ban Quy phù (龜 符) tức phù hiệu hình rùa
a) Các loại phù
Về trang bị nhẹ của quân lính thời Trần thì không thấy có gi chép gì, chỉ có thể dựa vào tính tiếp nối của 2 triều Lý – Trần mà phỏng đoán rằng bộ quân phục Tứ Phương Bình Đính vẫn được tiếp tục dùng.
Cũng theo chế độ thời Đường – Tống , nhà Trần ban các loại phù hiệu bằng vàng bạc cho quan võ (Với quan văn là Ngư Đại) như một thứ để thưởng công và phân biệt đẳng cấp.
Theo "Đại Việt sử ký toàn thư" ghi chép Phạm Ngũ Lão :
- Năm 1279 được ban Vân phù (雲符) tức là phù hiệu có hình mây.
- Năm 1294 lại được ban Kim phù (金符) phù hiệu bằng vàng hoặc mạ vàng
- Năm 1301 được phong làm Thân Vệ tướng quân ban Quy phù (龜 符) tức phù hiệu hình rùa
Trang phục quân đội thời Trần - Trang bị nặng.
Trang phục quân đội thời Trần
Về đại thể trang bị quân đội thời Trần tiếp thu nhiều điểm từ thời Lý nhưng cũng vẫn có sự biến dị riêng
1) Trang bị nặng
Theo Đại Việt sử ký toàn thư năm 1285 ghi chép : Quan quân giao chiến với quân Nguyên ở Hàm Tử Quan, các quân đều có mặt, riêng quân của Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật có người Tống , mặc áo kiểu Tống , cầm cung tên chiến đấu. Thượng hoàng sợ các quân có thể không phân biệt được, sai người dụ rằng : Ấy là quân Thát của Chiêu Văn Vương, phải nhận cho kỹ ! chừng vì người Tống và người Thát tiếng nói và trang phục tương tự
Qua đoạn ghi chép trên có thể luận ra rằng quân trang quân phục thời Trần đã có sự khác biệt rất lớn so với quân phục Tống – Nguyên khi đó.
Về đại thể trang bị quân đội thời Trần tiếp thu nhiều điểm từ thời Lý nhưng cũng vẫn có sự biến dị riêng
1) Trang bị nặng
Theo Đại Việt sử ký toàn thư năm 1285 ghi chép : Quan quân giao chiến với quân Nguyên ở Hàm Tử Quan, các quân đều có mặt, riêng quân của Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật có người Tống , mặc áo kiểu Tống , cầm cung tên chiến đấu. Thượng hoàng sợ các quân có thể không phân biệt được, sai người dụ rằng : Ấy là quân Thát của Chiêu Văn Vương, phải nhận cho kỹ ! chừng vì người Tống và người Thát tiếng nói và trang phục tương tự
Qua đoạn ghi chép trên có thể luận ra rằng quân trang quân phục thời Trần đã có sự khác biệt rất lớn so với quân phục Tống – Nguyên khi đó.
Saturday, July 2, 2016
Vải tơ lụa được kỵ binh mông cổ sử dung trọng giáp trụ ngày xưa.
Cá nhân mình cho rằng loại giáp lụa nhồi bông vẫn có tính bảo vệ nhất định của nó. Kỵ binh hạng nhẹ của Mông Cổ thường không mặc đồ gì phòng vệ ngoài một lớp áo lụa mà tương truyền nó có thể hấp thu lực của mũi tên và giúp dễ rút mũi tên ra khỏi thịt hơn, bằng cách túm vào chỗ lụa quanh vết thương rồi kéo ra. Nhật Bản cũng có truyền thống dùng áo giáp lụa. Và như thử nghiệm ở video này :
https://m.youtube.com/watch?v=8B_6BU7SYf8 Thì một lớp lụa căng phồng có thể làm giảm lực của mũi tên bắn. Vậy nếu có tói 30 lớp lụa chồng lên nhau thì hiệu quả sẽ tăng rõ rệt. Trước đây mình thường hình dung áo giáp da được may liền như một cái áo ba lỗ, nhưng đọc bài của bác thì bắt đầu nghĩ rằng có thể nó gồm nhiều miếng da hình chữ nhật được may liền theo kiểu phương Tây gọi là lamellar? Không biết tài liệu Trung Quốc có nói gì về áo giáp làm bằng da trâu không? Mong được bác giải đáp giúp. |
Trang phục quân đội thời Lý - trang bị nhẹ.
(Tiếp và hết)
Tuy nhiên nếu nói giáp trụ trên tượng Kim Cương tời Lý đều chỉ là dạng giáp lễ phục không có khả năng bảo vệ thì cũng là không hoàn toàn đúng vì như đã nói các bức tượng chỉ tạc theo hướng đại lược, thậm chí hư cấu, chỉ nhìn tượng không thể đoán được cụ thể hình dáng . Thêm đó trên tượng vẫn điêu khắc 2 tấm hộ tâm phiến trước ngực tức là vẫn mô phỏng theo kiểu giáp Minh Quang
Vì vậy vẫn cần phải kể đến trường hợp giáp trên tượng vẫn có tính thực chiến nên dưới đây mình vẫn xin đề cập tới thiết kế phổ biến của Minh Quang giáp.
Tuy nhiên nếu nói giáp trụ trên tượng Kim Cương tời Lý đều chỉ là dạng giáp lễ phục không có khả năng bảo vệ thì cũng là không hoàn toàn đúng vì như đã nói các bức tượng chỉ tạc theo hướng đại lược, thậm chí hư cấu, chỉ nhìn tượng không thể đoán được cụ thể hình dáng . Thêm đó trên tượng vẫn điêu khắc 2 tấm hộ tâm phiến trước ngực tức là vẫn mô phỏng theo kiểu giáp Minh Quang
Vì vậy vẫn cần phải kể đến trường hợp giáp trên tượng vẫn có tính thực chiến nên dưới đây mình vẫn xin đề cập tới thiết kế phổ biến của Minh Quang giáp.
Trang phục quân đội thời Lý - trang bị nặng.
Trang phục quân đội nước ta
Trong bài biên khảo lần này mục tiêu mình hướng tới là về trang phục quân đội của nước ta
Phạm vi của biên khảo sẽ là từ thời Lý tới Nguyễn, mặc dù rất muốn làm về thời kỳ xa hơn nhưng do hạn chế về tư liệu và khả năng nên mình chỉ có thể làm trong phạm vi thời gian đó.
Ngoài ra khi đọc bài này mọi người nên loại bỏ một số quan điểm sau thì mới có thể tiếp thu được :
- Việt Nam không có giáp trụ đầy đủ, chỉ cởi trần đóng khố ra trận.
- Nước ta khí hậu quá nóng nên mặc giáp trụ dày là không thể
- Sao bộ giáp này giống Trung Quốc thế.
Do tư liệu về trang phục quân đội nước ta tới nay còn lại rất ít và cũng chưa có nhiều phát hiện mới ,lại thêm một điểm đáng tiếc nữa là trang phục quân đội như ta đều biết là có sự phân biệt rõ giữa loại của lính cấ thấp với tướng lĩnh, lính hạng nặng với hạng nhẹ, giữa các binh chủng với nhau, tuy nhiên tư liệu của nước ta cũng rất ít ghi về điều này nên bài biên khảo về trang phục quân đội của mình sẽ ngắn hơn rất nhiều so với bài biên khảo về trang phục nói chung.
Trong bài biên khảo lần này mục tiêu mình hướng tới là về trang phục quân đội của nước ta
Phạm vi của biên khảo sẽ là từ thời Lý tới Nguyễn, mặc dù rất muốn làm về thời kỳ xa hơn nhưng do hạn chế về tư liệu và khả năng nên mình chỉ có thể làm trong phạm vi thời gian đó.
Ngoài ra khi đọc bài này mọi người nên loại bỏ một số quan điểm sau thì mới có thể tiếp thu được :
- Việt Nam không có giáp trụ đầy đủ, chỉ cởi trần đóng khố ra trận.
- Nước ta khí hậu quá nóng nên mặc giáp trụ dày là không thể
- Sao bộ giáp này giống Trung Quốc thế.
Do tư liệu về trang phục quân đội nước ta tới nay còn lại rất ít và cũng chưa có nhiều phát hiện mới ,lại thêm một điểm đáng tiếc nữa là trang phục quân đội như ta đều biết là có sự phân biệt rõ giữa loại của lính cấ thấp với tướng lĩnh, lính hạng nặng với hạng nhẹ, giữa các binh chủng với nhau, tuy nhiên tư liệu của nước ta cũng rất ít ghi về điều này nên bài biên khảo về trang phục quân đội của mình sẽ ngắn hơn rất nhiều so với bài biên khảo về trang phục nói chung.
Subscribe to:
Posts (Atom)







